Cối Đá và Cối Xay

1
444

 

Xưa kia, ở làng quê, chiếc cối đá là vật không thể thiếu trong mỗi gia đình bởi nó gắn liền với sinh hoạt hàng ngày. Những chiếc cối đá đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giã lúa thành gạo ăn và xay gạo, bắp, đậu… thành bột. Cối đá có hai loại chính, đó là cối giã và cối xay.

coi da va coi xay Ngày xưa để có thể tạo ra một chiếc cối đá, cha ông ta thường chọn những tảng đá xanh trên những ngọn núi cao để làm. Những tảng đá đó phải nằm âm dưới mặt đất, còn giữ được độ ẩm và độ mềm để có thể dùng búa, đục đẽo thành cối. Những người thợ khi gặp một khối đá ưng ý sẽ tạc ngay tại chỗ rồi sau mới đem sản phẩm về. Công đục đẽo, mang vác một chiếc cối đá thành hình và đưa vào sử dụng có khi mất cả tháng trời. Ở Quảng Nam, theo như các cụ cao niên thì vùng rừng núi Đại Lộc là nơi người ta làm cối đá nhiều nhất. Cối đá rất quan trọng, thiết thực trong đời sống sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của người nông dân ngày xưa.

Đối với nền văn hóa nông nghiệp, duy trì và phát triển sự sống là hai hình thức thiết yếu đối với đời sống con người, dẫn đến tín ngưỡng phồn thực. Và cối giã gạo cũng không nằm ngoài nét văn hóa phồn thực đặc sắc của nền văn minh lúa nước ấy. Các bộ phận cối và chày tượng trưng cho âm dương, cho sinh thực khí nam và nữ, còn việc giã gạo tượng trưng cho việc giao phối, chỉ sự sinh sôi, nảy nở. Vì được sinh ra từ tín ngưỡng phồn thực nên hình ảnh chiếc cối đá đã gắn với người Việt xưa trong nhiều tập tục cưới hỏi. Đơn cử như tục “Giã cối đón dâu”: Trong ngày lễ rước dâu, nhà trai bày chày cối trước cổng, khi dâu về đến nơi thì người nhà trai cầm chày mà giã không vào cối mấy tiếng. Đó là nghi lễ cầu cho đôi vợ chồng trẻ được đông con nhiều cháu. Ngoài ra còn có tục nam, nữ vừa giã cối rỗng vừa hát giao duyên, ngoài chức năng phụ làm nhịp đệm, việc giã cối còn thể hiện ước mong trai gái sẽ thành lứa đôi và sinh được nhiều con cái.

coi xay1 Cối chày còn gắn bó sâu sắc trong đời sống tinh thần của người nông dân xưa, thể hiện qua ca dao, tục ngữ. Người nông dân sử dụng nhiều lần hình ảnh của chày cối để phê phán những thói hư tật xấu trong đời sống hằng ngày. Ví như: “Cãi chày cãi cối” để nói về những người tính cách ương bướng, cứng đầu, không có kiến thức nhưng lại thích tranh cãi một cách cố chấp. “Vắt cổ chày ra nước” chỉ việc tận dụng triệt để đến cùng tận sự vật, sự việc, chỉ người hà tiện, keo kiệt quá đáng, hay có thể ám chỉ những con người ở giai tầng trên bóc lột sức lao động đến mức cùng kiệt, vắt cạn những giọt mồ hôi của những người làm thuê, ở mướn. Rồi đến những câu tục ngữ khác như “Nói trặc học cối xay” để chỉ những tính cách thẳng thắn, gặp sự việc gì cũng không dấu giếm mà nói hết ra, hay như câu “Gà què ăn quẩn cối xay” để chỉ những con người quanh năm suốt tháng không chịu đi ra ngoài, chỉ quanh quẩn trong làng xóm để kiếm sống, câu này ý phê phán những con người nhu nhược, thiếu bản lĩnh trong việc đi xa lập nghiệp. Rồi đến những câu tục ngữ dựa trên bản chất công việc sử dụng chày cối mà người xưa rút ra những bài học kinh nghiệm cho mình: “Khôn khéo vá may, vụng về chày cối” để chỉ công việc giã gạo hay xay bột là những công việc không đòi hỏi nhiều độ khéo tay; “Nhác đâm thì đổi chày, nhác xay thì đổi cối” để thể hiện một “kinh nghiệm” trong công việc giã gạo, xay bột hoặc cũng có thể là một sự phê phán ngầm hay ẩn ý nào đó của người xưa. Trong ca dao, hình ảnh chiếc cối, chiếc chày càng trở nên gần gủi, thân thuộc hơn đối với người nông dân. “Giã ơn cái cối cái chày/ Nữa đêm gà gáy có mày có ta”: cái cối, cái chày gắn bó với người nông dân từ năm này qua tháng nọ, ngày cũng như đêm. Từ những vật dụng vô tri vô giác, tưởng chừng chỉ biết phục vụ đời sống vật chất cho con người, cối chày đã trở thành những người bạn thân thiết, gắn bó, biết chia sẻ, biết lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng của người nông dân, để họ tâm sự, trút bỏ những ưu phiền. Rồi hình ảnh cối chày luôn đi đôi với nhau như âm dương hòa hợp đã khiến cho người xưa lấy nó làm ý tứ, ẩn dụ trong những câu hát giao duyên, hay những câu ca dao thể hiện tình yêu đôi lứa: “Gặp nhau chưa thõa tất lòng/ Trăng đà xế bóng buồn không hỡi chàng/ Cuốc kêu quốc quốc đoạn trường/ Nặng thương nặng nhớ hai hàng châu rơi/ Bỏ chày, buông cối chàng ơi/ Ngưu Lang, Chức Nữ ven trời chân mây…”. Hình ảnh những chiếc cối, chày đã in sâu trong tiềm thức của người nông dân, trở thành những vật dụng gần gủi, thân thuộc, có tri giác, biết lắng nghe những tâm tư nguyện vọng của họ, đó là những ước vọng về cuộc sống ấm no, tình yêu đôi lứa hạnh phúc, viên mãn.

coi da

Năm tháng qua đi, khi mà máy móc hiện diện ở hầu hết các làng quê với máy gặt đập, máy xay, máy xát gạo thì vai trò thiết yếu của những chiếc cối đá không còn nữa.Những chiếc cối đá xưa, nay không còn được sử dụng rộng rãi nhưng nó vẫn nằm đó “Trơ gan cùng tuế nguyệt” nhắc cho chúng ta hiểu hơn về một giai đoạn lao động cực nhọc của cha ông ta để làm ra hạt gạo, duy trì sự sống, về một nền văn minh lúa nước xưa, một nét tín ngưỡng phồn thực đậm chất và những tâm tư tình cảm mà người xưa đã gởi gắm thông qua những câu ca dao, tục ngữ mang hình ảnh cối chày.

Tác giả: Sơn Trịnh

CHIA SẺ
Đăng ký làm cộng tác viên cho blog ngay để đăng bài bằng bút danh của bạn! Liên hệ ngay cho Thái nhé :)

Leave a Reply

1 bình luận on "Cối Đá và Cối Xay"

Thông báo cho tôi khi
avatar
Sắp xếp theo:   Mới nhất | Cũ nhất | Nhiều lượt thích nhất
ThaiKeyboard
Admin

Cám ơn bài viết rất hay và ý nghĩ của anh Sơn Trịnh <3